KGU Events >>Sự kiện
KGU Tạo bài viết  
Chủ nhật 19 Tháng mười một. 2017

Bản hiến chương quốc tế các nhà giáo




Tác giả: SonTM

Tháng 7/1946, một tổ chức quốc tế các nhà giáo tiến bộ được thành lập ở Paris, lấy tên là Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục (tiếng Pháp: Fédération Internationale Syndicale des Enseignants – FISE).

Nǎm 1949, tại một hội nghị ở Warszawa (thủ đô của Ba Lan), Liên hiệp quốc tế các công đoàn giáo dục đã ra bản “Hiến chương các nhà giáo” gồm 15 chương.

Nội dung chủ yếu của Bản Hiến chương các nhà giáo: Đấu tranh chống mọi quan điểm và phương pháp giáo dục lạc hậu, phản động, phản dân chủ, phản khoa học của nền giáo dục tư sản, phong kiến nhằm xây dựng nền giáo dục tiến bộ, dân chủ và khoa học. Đấu tranh thủ tiêu các chế độ bạc đãi, coi khinh nghề dạy học và ra sức bảo vệ những quyền lợi về vật chất, tinh thần chính đáng cho các nhà giáo. Quy định một số điều đối với các nhà giáo, đặc biệt nêu cao vị trí nghề dạy học và những người dạy học.

Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Công đoàn Giáo dục Việt Nam đã liên hệ với FISE với mục đích tranh thủ các diễn đàn quốc tế, tố cáo âm mưu tội ác của bọn đế quốc xâm lược đối với nhân dân ta cũng như đối với giáo viên và học sinh.

Đồng thời, giới thiệu những thành tích của nền giáo dục cách mạng, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của toàn thể giáo viên trên thế giới đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta.

Mùa xuân năm 1953, Đoàn Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn làm trưởng đoàn dự Hội nghị quan trọng kết nạp Công đoàn giáo dục của một số nước vào tổ chức FISE tại Viên (Thủ đô nước Áo), trong đó có Công đoàn Giáo dục Việt Nam.

Từ ngày 26 đến 30/8/1957, tại Thủ đô Vacsava, Hội nghị FISE có 57 nước tham dự, trong đó có Công đoàn giáo dục Việt Nam, quyết định lấy ngày 20/11 làm ngày Quốc tế Hiến chương các nhà giáo.

Lần đầu tiên ngày "Quốc tế Hiến chương các nhà giáo" được tổ chức trên toàn miền Bắc nước ta vào ngày 20/11/1958. Những năm sau đó, ngày lễ 20/11 còn được tổ chức tại các vùng giải phóng ở miền Nam.

Việc tổ chức Ngày Quốc tế Hiến chương các nhà giáo 20/11 hằng năm đã sớm trở thành ngày hội truyền thống của giáo giới Việt Nam.

Hàng năm vào kỷ niệm ngày 20/11, cơ quan tiểu ban giáo dục thường xuất bản, phát hành một số tập san đặc biệt để cổ vũ tinh thần đấu tranh của giáo viên trong vùng tạm chiếm nói riêng, động viên tinh thần chịu đựng gian khổ hy sinh của giáo viên kháng chiến nói chung.

Khi Việt Nam thống nhất, với ý nghĩa tích cực của ngày 20/11, theo nguyện vọng của giáo giới cả nước, kiến nghị của Đại hội Công đoàn Giáo dục Việt Nam lần thứ VIII (tháng 4/1982) và Bộ Giáo dục, Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng Cục dạy nghề, Ủy ban Bảo vệ bà mẹ trẻ em…, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 167/HĐBT, ngày 26/9/1982 quyết định sẽ lấy ngày 20/11 hàng năm là Ngày Nhà giáo Việt Nam.

Ngày 20/11/1982, lễ kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam đầu tiên được tiến hành trọng thể trong cả nước. Từ đó đến nay, đây là ngày truyền thống của ngành giáo dục để tôn vinh những người làm công tác trồng người.

 

Trên đây là tin tức từ các báo chính thống của Việt Nam nhân ngày 20/11/2017

 

Còn dưới đây là Bản Hiến chương quan trọng này đối với tất cả các nền giáo dục trên thế giới sưu tầm trên mạng Internet (may mà ngày nay có mạng nên mới có thể đọc được)

 

Moscow, 9-11 August 1954

The Joint Committee of  International Teachers Federations, at its nineteenth meeting held in Moscow on 9, 10 August 1954, unanimously adopted the Teachers’ Charter and the following resolution:

THE TEACHERS’ CHARTER

Maxcova, ngay 9-11 tháng 8 năm 1954

Ủy ban hỗn hợp Liên đoàn quốc tế các nhà giáo, tại cuộc họp thứ XIX được tổ chức tại Maxcơva vào ngày 9, 10 tháng 8 năm 1954, đã nhất trí thông qua Hiến chương Nhà giáo với nội dung như sau:

HIẾN CHƯƠNG CÁC NHÀ GIÁO

 

PREAMBLE

Teachers have an important function to perform in society since the education of children is vital, not only for development of the individual, but also for the progress of society. The teaching profession imposes upon its members responsibilities which should carry corresponding rights. Teachers are entitled to exercise freely full civic and profession rights.

Accepting as their aim the development of the child’s individual personality, teachers must respect their pupil right to freedom of thought and encourage in them the development of independent judgment.

 

LỜI MỞ ĐẦU

Các nhà giáo phải thực hiện một chức trách quan trọng trong xã hội vì giáo dục trẻ em là một vấn đề cốt tử,  không chỉ cần cho sự phát triển cá nhân, mà còn cho sự tiến bộ của toàn xã hội. Nghề giảng dạy đặt cho người thày những trách nhiệm, mà những trách nhiệm này đòi hỏi có những quyền tương ứng. Các giáo viên cần có quyền dân sự một cách đầy đủ và quyền tự do hành nghề.

Chấp nhận việc phát triển tính cách cá nhân của trẻ như mục tiêu của giáo dục, giáo viên phải tôn trọng quyền tự do tư tưởng của học sinh và khuyến khích học sinh phát triển tư duy độc lập .


Article 1. The essential duties of the teacher are to respect the individuality of the child,  discover and develop his abilities, to care for his education and training , to aim constantly at shaping the moral consciousness of the future  man and citizen, and to educate him in a spirit of democracy, peace, and friendship between peoples.

 

Điều 1. Nhiệm vụ thiết yếu của giáo viên là phải tôn trọng tính cá nhân của trẻ em, khám phá và phát triển khả năng của trẻ em, chăm lo quá trình giáo dục và đào tạo, luôn luôn hướng tới việc hình thành ý thức đạo đức của con người và công dân tương lai, giáo dục trẻ trong một tinh thần dân chủ, hòa bình và hữu nghị giữa con người với nhau.


Article 2. The right of the teacher are independent of sex, race and colour, and of his personal beliefs and opinion, provided always that he does not impose his beliefs and opinion upon the child.

No teacher should be penalized for educating his pupils in accordance with his duties as defined in Article 1.

Điều 2 . Quyền của giáo viên không phụ thuộc vào giới tính, chủng tộc, màu da, không phụ thuộc vào niềm tin và ý kiến cá nhân, miễn là giáo viên không áp đặt niềm tin và ý kiến ​​của mình cho trẻ em.

Giáo viên không bị phạt nếu việc giáo dục học sinh tuân thủ các quy định ở Điều 1.

 

Article 3. Teachers are entitled to have agreements embodying safeguards against arbitrary decision affecting their tenure of office, and their professional life. In particular safeguards should be provided against arbitrary decisions on recruitment, probation, appointment, promotion, disciplinary measures dismissal.

Điều 3. Giáo viên có quyền có các thỏa thuận về các biện pháp bảo vệ họ chống lại quyết định tùy tiện ảnh hưởng đến nhiệm kỳ làm việc và cuộc sống nghề nghiệp. Cụ thể, các biện pháp bảo vệ cần được đảm bảo để chống lại các quyết định tùy tiện về tuyển dụng, tập sự, bổ nhiệm, đề bạt, hay các biện pháp kỷ luật đuổi việc.

 

Article 4. In matters which concern the school curriculum and educational practice, the pedagogical and professional liberty of teacher must be respected and their initiative encouraged, particularly in the choice of teaching methods and textbooks, and through the participation of their representatives in the study of pedagogical and professional problems.

Điều 4. Liên quan đến chương trình học và thực hành giáo dục, sự tự do sư phạm và tự do chuyên môn của giáo viên phải được tôn trọng, các sáng kiến ​​cần được khuyến khích, đặc biệt là lựa chọn phương pháp giảng dạy và sách giáo khoa thông qua sự tham gia của đại diện giáo viên trong việc nghiên cứu các vấn đề sư phạm và chuyên môn.

 

Article 5. Teachers should have the right freely to join professional bodies, and such bodies should be entitles to represent them on all occasions.

Điều 5. Giáo viên phải có quyền tự do tham gia tổ chức nghề nghiệp và các tổ chức như vậy nên làm đại diện cho giáo viên trong mọi hoàn cảnh.

 

Article 6. All Teacher should have the right to academic and professional training of the highest possible standard, the educational requirement for university entrance being included. Social and financial circumstances should not debar a student from training for teaching.

Điều 6. Tất cả các giáo viên phải có quyền được nâng cao trình độ về mặt học thuật và chuyên môn theo các  tiêu chuẩn cao nhất có thể, kể cả yêu cầu được học để có thể vào học ở bậc đại học. Hoàn cảnh xã hội và tài chính không được trở thành một rào cản để ngăn cấm một sinh viên được học để trở thành giáo viên.

 

Article 7. Teachers should have the opportunity to continue their professional education. They should have the right to take part in supplementary course, and have the necessary financial assistance to do so; in particular special facilities for travel and foreign exchange should be available to enable them to get first-hand knowledge of the life of their own and of other countries.

Điều 7. Giáo viên cần được tạo cơ hội để tiếp tục học nâng cao trình độ chuyên môn. Họ có quyền tham gia các khóa học bổ trợ với sự hỗ trợ tài chính ở mức cần thiết, kể cả việc  tạo điều kiện đặc biệt để giáo viên có thể tham quan, trao đổi ở nước ngoài giúp họ có kiến ​​thức thực tế trong cuộc sống riêng (trong nước) và ở nước ngoài.

 

Article 8. Teachers are entitled to salaries corresponding to the importance of their social and educational function and such as to enable them to devote themselves entirely to their profession without financial anxiety.

For teacher with equal qualifications and length of service, the principle of equal pay for equal work should be recognized without discrimination.

Điều 8. Giáo viên được hưởng tiền lương phù hợp với tầm quan trọng của chức năng xã hội và giáo dục để có thể cống hiến hoàn toàn cho nghề nghiệp mà không phải lo lắng về tài chính.

Đối với những giáo viên có trình độ và thâm niên công tác ngang nhau, cần áp dụng nguyên tắc trả lương công bằng: công việc như nhau thì lương cũng như nhau, không nên phân biệt.

 

Article 9. Teachers are entitled to holidays with pay for a period corresponding to the full school holidays, sick leave with pay and adequate pension scheme, which includes provision for widow, children and dependants.

Điều 9. Giáo viên được nghỉ có lương trong toàn bộ thời gian nghỉ của trường học, được nghỉ ốm có lương và hưởng chế độ trợ cấp đầy đủ, kể cả trợ cấp cho góa phụ, trẻ em và người phụ thuộc.

 

Article 10. Teacher are entitled to carry on their work in suitable premises, equipped with the necessary apparatus and materials, and in classes small enough for effective teaching.

Điều 10. Giáo viên có quyền được làm việc trong điều kiện thích hợp, với các trang thiết bị cần thiết và quy mô các lớp học đủ nhỏ để giảng dạy hiệu quả.

 

Article 11. The equipment of a school should not depend upon the social status of the pupils, nor on the type of school, but upon educational needs.

All school should be provided with suitable accommodation to enable qualified staff to carry out the special services entrusted to them, e.g. medical and dental care, school meals and physical education. They should also be provided with laboratories, workshops and libraries.

 

Điều 11. Trang thiết bị trường học không nên phụ thuộc vào địa vị xã hội của học sinh cũng như thể loại trường mà chỉ phụ thuộc vào mục đích/nhu cầu giáo dục.

Các trường cần có nơi ăn ở phù hợp cho những nhân viên đủ trình độ, đảm đương các dịch vụ chuyên biệt tại chỗ như chăm sóc ý tế nha khoa, cũng cấp bữa ăn tại trường và giáo dục thể chất. Trường học cũng cần có các phòng thí nghiệm, phòng hội thảo và thư viện.

 

Article 12. The school should contribute to the development of character. A humane discipline in keeping with the self-respect of both pupil and teacher, should exclude coercion and violence.

Điều 12 . Nhà trường cần đóng góp vào sự phát triển nhân cách. Một nguyên tắc nhân đạo,  phù hợp với lòng tự trọng của cả học sinh và giáo viên, là phải loại trừ áp bức và bạo lực.

 

Article 13. Maladjusted children should be taught in special classes with a view to fitting them as soon as possible to enter ordinary classes and normal life.

Children whose physical handicaps prevent them from participating in ordinary school life should be educated in special schools by method suited to their special needs and disabilities.

 

Điều 13 . Trẻ em lệch lạc về hành vi (trẻ em cá biệt) cần được giảng dạy trong các lớp học đặc biệt nhằm điều chỉnh càng sớm càng tốt để các em có thể vào lớp học bình thường và có cuộc sống bình thường.

Trẻ em khuyết tật về thể chất không thể tham gia vào hoạt động học đường bình thường cần được giáo dục trong các trường đặc biệt, bằng các phương pháp phù hợp với nhu cầu đặc biệt và tình trạng khuyết tật của trẻ em.

 

Article 14. Provision should be made for educational research in classes or schools where experiments in methods may be tried under suitable conditions, so that the progress of educational practice and theory may be advanced. An information service should be available to make the results of research known.

 

Điều 14. Các cơ sở giáo dục cần có cơ sở vật chất cần thiết để có thể tiến hành các thực nghiệm khoa học, khả dĩ trong điều kiện thích hợp, sao cho có thể đẩy mạnh các tiến bộ của lý thuyết và thực hành về giáo dục. Cần có dịch vụ thông tin để công bố các kết quả nghiên cứu.

 

Article 15. Through their chosen representatives teachers should have the opportunity of shaping policy to improve the administration of schools and the practice of their profession.

Điều 15 . Thông qua đại diện do mình bầu, giáo viên cần có cơ hội để xây dựng các chính sách để cải thiện hoạt động quản lý các trường học và hành nghề.

 

Lời bình:

Chúng ta hầu như chẳng ai biết về nội dung quan trọng của bản hiến chương này, mà các nhà hoạch định chính sách giáo dục cũng vậy. Một thời chúng ta tuyên truyền ầm ĩ về ý nghĩa chính trị của ngày 20/11 trong các phương tiện truyền thông chính thống như đã nêu ở phần trên,  mà chẳng hề đoái hoài đến ý nghĩa chuyên môn, nhân văn và kế hoạch thực thi thế nào đối với văn bản này. Quả thật, để thực thi nó đòi hỏi sự cố gắng của toàn dân và nguồn nhân tài vật lực rất lớn không thể bằng các văn bản chung chung, trong đó điều 8 điều nói về đảm bảo cuộc sống đối với thày cô giáo đối với chúng ta còn quá xa vời.

Là một người làm công tác giảng dạy hơn 40 năm và cả thời học sinh sinh viên tôi chưa hề được biết đến văn bản này. Thật buồn và xấu hổ vì không biết đọc chúng ở đâu và cũng chẳng ai đưa vào chương trình giáo dục và nâng cao nghiệp vụ sư phạm. Một văn bản tinh hoa của giáo dục thế giới mà bị bỏ xó ở  Việt Nam như vậy, thử hỏi định hướng giáo dục thế nào. Cho tới nay tất cả nội dung của nó vẫn giữ nguyên tính thời sự.

 

Các thày cô giáo không cần sự tung hô, tặng hoa và tặng quà ầm ỹ nhân ngày này mà cần sự đối xử tôn trọng và tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ của mình đúng như 15 điều của Hiến chương. Mong các nhà quản lý giáo dục hiểu cho điều này!


Người post: SonTM

Ngày đăng: 19-11-2017 11:11






Xem 1 - 10 của tổng số 15 Comments


Trang:  1 | 2 | Tiếp theo >  Cuối cùng >>

Từ: ThangNT
26/11/2017 10:13:38

Cám ơn Khánh. Đúng là giáo dục hiện nay đau quá. Sắp tới lại chuẩn bị kế hoạch phiêu lưu. Trong đó có việc tăng lương  cho giáo viên lên mức cao nhất. Không biết lấy tiền ở đâu. Trong khi chỉ 1 ví dụ thôi là tiền cho tuyến metro Bến thành - Suối tiên còn đang loay hoay không biết lấy từ đâu. Thế mới biết sự phát triển ngành giáo dục khó thật.



Từ: KhanhT
25/11/2017 21:13:08

Gửi ThắngNT đường LINK bài của giáo sư Hoàng Chí Bảo:


https://www.youtube.com/watch?v=nCM2H5-n3Og


 



Từ: ThangNT
25/11/2017 15:32:39

Cám ơn bài viết của Sơn và bình luận của Khánh liên quan đến ý kiến của GS Hoàng chí Bảo. Thật là chí lý. Khi giáo dục bị coi nhẹ thì vận nước rất gay. Kháng chỉ cho mình đường link để download bài của GS Hoàng chí Bảo làm tư liệu. Xin cám ơn.



Từ: LienTP
24/11/2017 09:47:13

Cảm ơn anh Sơn, Một tài liệu rất có ý nghĩa. Ở mình còn nhiều thứ chưa có đủ chưa làm theo.



Từ: SonTM
23/11/2017 21:36:38

Nếu các Kế hoạch quốc gia về giáo dục cũng như Luật Giáo dục cụ thể hóa các điều của bản hiến chương này, tôn trọng nhân cách của học sinh và thày giáo; không chạy theo thành tích, đảm bảo đủ cơ sở vật chất để không phải học ghép học chung, cuộc sống người thày được đảm bảo đủ sống để làm việc, bỏ bớt các cuộc cải cách, thử nghiệm nửa vời trong giáo dục... thì nền giáo dục sẽ khác rất nhiều. Không còn nặng nề hình thức như hiện tại.


 



Từ: KhanhT
23/11/2017 20:17:57

 


GS.TS.Hoàng Chí Bảo phát biểu về ngành giáo dục  


Thuy Trang   Xuất bản 13 thg 4, 2016


 




 



Từ: ThoaNP
23/11/2017 20:12:17

Cảm ơn anh Khánh về 2 còm vừa rồi.



Từ: KhanhT
23/11/2017 14:09:56

Lại tin mới nữa. “Chương trình môn Lịch sử mới sẽ 'không có vùng cấm'. Chiến tranh biên giới phía Bắc, cải cách ruộng đất cùng nhiều "khoảng trống" khác sẽ được bổ sung trong chương trình Lịch sử phổ thông mới. Chủ biên chương trình môn Lịch sử mới - GS Phạm Hồng Tung (Viện trưởng Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển), cho biết sẽ có nhiều thay đổi so với chương trình hiện hành… Trong lịch sử chiến tranh vệ quốc của Việt Nam, không thể không tìm hiểu về cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Tây Nam (1975-1978), chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới phía Bắc (1979-1989). Các vấn đề như sự du nhập đạo Phật, đạo Cơ đốc vào Việt Nam; xã hội phong kiến định kiến nặng nề với người phụ nữ; những sai lầm trong cuộc Cải cách ruộng đất và việc sửa sai (1953-1956); những khó khăn, khuyết điểm của thời kỳ bao cấp (1976-1986)… cũng sẽ được đề cập đến"



Từ: KhanhT
23/11/2017 13:30:22

 


Từ: HienVC, 20/11/2017 10:57:57   đã chỉ điểm: “Có lẽ việc không tuân thủ / làm trái các điều 3, 4, 8, 10, 11, 14 của Hiến chương đã đẩy nền giáo dục nước nhà vào thảm cảnh hiện nay ?” mình liệt kê lại cho dễ đọc, để nhìn nhận rõ thảm cảnh của nền giáo dục nước nhà hiện nay:


Điều 3. Giáo viên có quyền có các thỏa thuận về các biện pháp bảo vệ họ chống lại quyết định tùy tiện ảnh hưởng đến nhiệm kỳ làm việc và cuộc sống nghề nghiệp. Cụ thể, các biện pháp bảo vệ cần được đảm bảo để chống lại các quyết định tùy tiện về tuyển dụng, tập sự, bổ nhiệm, đề bạt, hay các biện pháp kỷ luật đuổi việc.


Điều 4. Liên quan đến chương trình học và thực hành giáo dục, sự tự do sư phạm và tự do chuyên môn của giáo viên phải được tôn trọng, các sáng kiến ​​cần được khuyến khích, đặc biệt là lựa chọn phương pháp giảng dạy và sách giáo khoa thông qua sự tham gia của đại diện giáo viên trong việc nghiên cứu các vấn đề sư phạm và chuyên môn.


Điều 8. Giáo viên được hưởng tiền lương phù hợp với tầm quan trọng của chức năng xã hội và giáo dục để có thể cống hiến hoàn toàn cho nghề nghiệp mà không phải lo lắng về tài chính.


Đối với những giáo viên có trình độ và thâm niên công tác ngang nhau, cần áp dụng nguyên tắc trả lương công bằng: công việc như nhau thì lương cũng như nhau, không nên phân biệt.


Điều 10. Giáo viên có quyền được làm việc trong điều kiện thích hợp, với các trang thiết bị cần thiết và quy mô các lớp học đủ nhỏ để giảng dạy hiệu quả.


Điều 11. Trang thiết bị trường học không nên phụ thuộc vào địa vị xã hội của học sinh cũng như thể loại trường mà chỉ phụ thuộc vào mục đích/nhu cầu giáo dục.


Các trường cần có nơi ăn ở phù hợp cho những nhân viên đủ trình độ, đảm đương các dịch vụ chuyên biệt tại chỗ như chăm sóc ý tế nha khoa, cung cấp bữa ăn tại trường và giáo dục thể chất. Trường học cũng cần có các phòng thí nghiệm, phòng hội thảo và thư viện.


Điều 14. Các cơ sở giáo dục cần có cơ sở vật chất cần thiết để có thể tiến hành các thực nghiệm khoa học, khả dĩ trong điều kiện thích hợp, sao cho có thể đẩy mạnh các tiến bộ của lý thuyết và thực hành về giáo dục. Cần có dịch vụ thông tin để công bố các kết quả nghiên cứu.


 Tin mới nhận được: “Bộ GD-ĐT vừa trình Chính phủ dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục hiện hành với một số thay đổi đáng chú ý như miễn học phí tới cấp THCS, lương nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bảng lương.”


 



Từ: HienVC
20/11/2017 10:57:57

Đây là một văn bản không dài nhưng rất súc tích, đáng đọc và làm theo. Đáng tiếc là nội dung của nó đã không được phổ biến trong một thời gian quá dài.


Có lẽ việc không tuân thủ / làm trái các điều 3, 4, 8, 10, 11, 14 của Hiến chương đã đẩy nền giáo dục nước nhà vào thảm cảnh hiện nay ?




Trang:  1 | 2 | Tiếp theo >  Cuối cùng >>

Tổng số bài và comment post theo từng khoa

KhoaBài viếtComment
Sinh 548 9384
379 2793
Hóa 816 9537
Luật 713 11598
Toán 63 370
Kinh tế 4 108
Câu Lạc Bộ 30 1
NCS 3 70
Bạn bè 196 1191
Dự bị 0 0
Ngôn ngữ 2 2

10 người post bài nhiều nhất

UserSố bài viết
TungDX 289
NghiPH 305
NgocBQ 119
ThaoDP 99
CucNT 119
CoDM 86
HaiNV 95
LiTM 85
PhongPT 70
MinhCK 69

10 người comment nhiều nhất

UserComment
Guest 6605
NghiPH 3218
LiTM 1878
HaiNV 1853
CucNT 1696
KhanhT 1680
TungDX 1567
ThanhLK 1546
VanNH 1414
HuyenBT 1203
s