KGU Poetry
KGU Tạo bài viết  
Chọn
Thứ sáu 14 Tháng bẩy. 2017

Truyện Chùa Bối Linh ( Phần 2)




Tác giả: TuanDK

TRUYỆN CHÙA BỐI LINH (SỐ 2)

 

Giở trang lịch sử nước nhà

Hào hùng quá khứ hiện ra dưới đèn

Thăng trầm, vinh nhục bao phen

                 Máu hồng nhuộm thắm dòng tên đất này

Bốn nghìn năm trước hôm nay

              Quốc gia Xích Quỷ([1]) một ngày khai sinh

Có vua, có nước riêng mình

              Tiến vào thời đại văn minh, huy hoàng

Kinh Dương Vương sáng tên vàng

               Đức Vua Thủy Tổ Nam Bang dựng cờ

Ngàn năm dấu cũ chưa mờ

                       Đền thiêng vẫn ủ giấc mơ Thuận Thành([2])

Hồng Đăng Ngàn mãi rạng danh

                       Thủy Tổ Quốc Mẫu phúc dành muôn sau

Trăng kia tròn, khuyết trên đầu

                      Ân tình vẫn nặng trái bầu đền Tiên([3])

Ngôi  vua con nối, cha truyền

                  Núi sông kết mối tơ duyên Tiên Rồng

Âu Cơ sánh với Lạc Long

               Trăm con chung bọc trứng hồng nở ra

Nửa về biển cả cùng cha

               Nửa theo chân mẹ, bóng nhòa rừng xanh

Công Cha, nghĩa Mẹ sinh thành

               “Đồng bào” - Lời cháu con dành gọi nhau

Xưa Người mang nặng, đẻ đau

                Cho nòi giống Việt truyền sau muôn đời

Hiền Lương tiễn mẹ về trời

         Mái đền lưu dấu cho người khói hương

Nối ngôi: Con trưởng Hùng Vương

Bài ca dựng nước thêm chương, tiếp vần

Nước nhà thêm vững bước chân

              Đường vào lịch sử mùa Xuân huy hoàng

Mười tám đời họ Hồng Bàng

Kế nhau vương quốc Văn Lang trị vì

Chọn nơi xây đắp kinh kỳ

             Phong Châu ngày ấy - Việt Trì hôm nay

Đất linh Trời khéo sắp bày

Ba con sông lớn về đây hợp dòng

Trập trùng Tam Đảo sườn Đông

Ba Vì chót vót mây lồng trời Tây

Trăm gò đất tạc voi bày

            Chầu vua phủ phục, đầu quay về thành

Ngàn năm còn đó bức tranh

            Con voi phản phúc ô danh muôn đời

Ngã ba sông nước đầy vơi

Ẩn mình Anh Vũ, trắng trời hạc bay

Hình sông, thế núi nơi này

Đế đô khởi thủy vận may nước nhà

Lầu son, gác tía nguy nga

             Cây xanh tỏa bóng, cỏ hoa thắm màu

Đền Tiên vẳng tiếng hát chầu

             Ngợi ca Quốc Mẫu, nguyện cầu ấm no

Mồ hôi thánh thót bên lò

Trẻ già làng Cả chăm lo đúc đồng

Cuốc, cày, công cụ nhà nông

Trống thiêng tế lễ tổ tông, Đất Trời

Mũi tên, ngọn giáo sáng ngời

            Vòng tay, chuỗi hạt cho người làm duyên

Chữ Khoa Đẩu tự cổ truyền

         Nước mình thuở ấy mọi miền dùng chung

                        Người Kinh, người Thái, Tày, Nùng…

           Tiếng nào vần ấy, cách dùng khác đâu

Lớp, trường trên đất Phong Châu

             Trò đông, thầy giỏi đứng đầu Văn Lang

Giờ đây tên đất, tên làng

           Nơi kinh đô cũ còn mang trên trường([4])

Dân mình thời đại Hùng Vương

            Giỏi săn bắt lại thạo đường canh nông

Nơi nơi lúa nước cấy trồng

Cánh cò kết với ruộng đồng từ đây

Con trâu làm bạn với cày

                              Nếp thơm đã hóa bánh dầy, bánh chưng

Con thoi khung cửi không ngừng

                                Dệt nên tấm vải dưới vừng trăng khuya

Con tằm lên ở nong nia

Tơ vàng rút ruột sẻ chia cho người

Tháng năm theo lịch trăng trời

                             Tâm tình đã thốt nên lời văn chương

Điệu Xoan nhắn gửi người thương

                             Nghe câu Ghẹo cũng vấn vương đợi chờ…

Đất Lâu Thượng thuở bấy giờ

Là nơi cung điện nhà vua các đời

Lạc Hầu, Lạc Tướng khắp nơi

Về đây hội họp, vua tôi luận bàn

Việc dân, việc nước chu toàn

Cung tên nai nịt thành đoàn thợ săn

Đấu cùng beo, gấu, hùm, trăn…

                 Rừng sâu, thú dữ khôn ngăn anh hùng

Nắng trưa, mát rượi giếng Rùng

Vua tôi hể hả múc chung một gầu

Thảnh thơi bát nước, miếng trầu

                    Chan hòa đâu khác bạn bầu, đệ huynh

Đường về qua ngả Bối Linh

                 Vang vang tiếng mõ, câu kinh Di Đà

Đẹp thay đạo Mẫu nước ta

                 Dạy con người biết thuận hòa, yêu thương

Trần gian sẽ hóa thiên đường

                          Một khi người khắp bốn phương rộng lòng

Ngắm đôi câu trắng lượn vòng

                          Nhẹ nhàng sà xuống đậu trong sân chùa

Niềm vui tràn ngập lòng vua

                      Rộn ràng theo vó ngựa khua trên đường…

Kế sau thời đại Hùng Vương

                           Tới vua Thục giữ kỷ cương nước nhà

Kinh kỳ dời đến Cổ Loa

Dựng xây thành ốc, chế ra nỏ thần

Lỗi lầm một cuộc hôn nhân

                                Mỵ Châu - Trọng Thủy ái ân không tròn

Đường cùng, dứt nghĩa cha con

Oan tình máu đỏ kết hòn ngọc trai

Bởi ai? Ai biết trách ai

                          Ngẩn ngơ tượng gỗ so vai, không đầu([5])

Ngàn năm trước, mãi muôn sau

                               Chuyện tình công chúa Mỵ Châu luận đàm

Triệu Đà giành được nước Nam

Triều vua này sử ít bàn xưa nay

Hưng vong trời đã sắp bày

                              Ngai vàng nhà Triệu truyền tay năm đời

Một trăm bốn chín năm trời

                     Nước Nam Việt vẫn thuộc người Việt ta

Cuối thời Triệu, tướng Lữ Gia

Cuộc đời là bản trường ca bi hùng

Gò Hào máu thắm lòng trung

                                   Nắm xương Cắc Cớ([6]) thức cùng núi sông

Vơi chăng nỗi hận chất chồng

                               Mỗi mùa Xuân tới, Tràng Đông hội làng?

Triệu Vương để mất ngai vàng

Khi quân nhà Hán tràn sang đất này

Cuộc đời nô lệ đắng cay

                             Sống lầm than dưới gót giày ngoại bang

Mây che cố quốc Văn Lang

                     Lưỡi gươm hòng dập hào quang Lạc Hồng

Binh đao muốn át trống đồng

                               Đất trời uất hận, núi sông nghẹn ngào

Nước mình kho báu trời trao

Kẻ thù mặc sức vơ vào túi tham

Sừng tê, vàng bạc, ngọc lam

                                    Ngà voi, đá đỏ, kỳ nam, hương trầm…

Nỗi đau non nước khôn cầm

                                 Đại ngàn gió thét, sóng gầm bể khơi

Giặc kia không đội chung trời

                                 Nước non đau đáu đợi người dấy binh

Bấy giờ miền đất Mê Linh

                                  Với dòng sông Cái([7]) uốn mình chảy qua

Hừng đông Tam Đảo non xa

                                  Trời Tây chênh chếch trăng ngà Tản Viên

Chủ nhân: Lạc tướng uy quyền

                                Tiếng tăm vang dội khắp miền gần xa

Hùng Vương vốn gốc họ nhà

Ơn cha nuôi mới đổi là họ Trưng

Tung trời một cánh chim ưng

                                 Lướt trên biển lúa, núi rừng quê hương

Phu nhân Mèn Thiện yêu thương

                           Song toàn văn võ đường đường thua ai

Bầy con hai gái một trai

                          Tươi xinh tựa mấy bông lài sương sa

Trắc là chị cả trong nhà

Nhị thứ hai tới Ún Ba rốt lòng

Tháng ngày êm ả thong dong

Còn chi hơn thế mà mong ở đời

Ai hay sâu thẳm lòng người

Nỗi đau non nước nhủ lời thiết tha

Làm sao giành lại sơn hà

                               Xây nền độc lập nước nhà Văn Lang?

Tiên Rồng nòi giống vẻ vang

                          Cớ chi mãi chịu thuộc bang chư hầu?

Ngày dài lại tới đêm thâu

                             Nỗi niềm Lạc tướng mái đầu sương sa.

Bao lần gươm báu tuốt ra

Ngắm nhìn rồi lại vách nhà treo lên

Bao lần chuốt lại ống tên

                              Giương cung bắn thử lên nền trời xanh

Tên đồng xé gió lao nhanh

                        Ước chi trước mặt lũy thành Luy Lâu([8])

Giao du kết bạn kết bầu

Xa gần vẫn một nỗi đau thế thời

Làm thân Lạc tướng ở đời

                         Để tên Thái thú nước người cầm cương

Bàn tay đô hộ bạo cường

                        Cắt chia non nước Hùng Vương ngàn đời

Nhật Nam, Giao Chỉ,… hỡi ôi!

Dòng tên nô lệ ngậm ngùi xót xa

Nước ta phải trả về ta

Đất này sẽ nổi phong ba có ngày.

                                            (Còn nữa)



[1] Xích Quỷ: Tên quốc gia sơ khai đầu tiên do Kinh Dương Vương đặt ra.

[2] Tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh ngày nay vẫn còn đền thờ Kinh Dương Vương.

[3] Trên cửa Võng đền Tiên thuộc đền Tiên Cát, thành phố Việt Trì, nơi thờ mẫu Hồng Đăng Ngàn là hoàng hậu của Kinh Dương Vương có khắc hình tượng dây bầu sai quả dựa theo truyền thuyết của dân tộc Mường kể rằng: Trong đại nạn hồng thủy, nhờ có trái bầu khô làm thuyền mà con người cùng các loài vật, cây cỏ đã được cứu thoát.

[4] Chỉ các thôn Tràng Đông, Tràng Nam tại xã Lâu Thượng.

[5] Chỉ tượng Mỵ Châu không đầu tại đền Cổ Loa (Hà Nội).

[6] Tức hang Cắc Cớ tại chùa Thầy, Quốc Oai, Hà Nội - nơi có bể hài cốt người, tương truyền là hài cốt quân sĩ Lữ Gia tử trận.

[7] Sông Cái: Tức sông Hồng ngày nay.

[8] Luy Lâu: Thủ phủ của quận Giao Chỉ thời Bắc thuộc, thuộc Bắc Ninh ngày nay.

 


Người post: HoaNT

Ngày đăng: 14-07-2017 22:10






Xem 1 - 3 của tổng số 3 Comments

Từ: NghiPH
24/07/2017 07:30:20

Những mảnh đất lịch sử, những con người bất diệt hiện lên lung linh, huyền ảo qua các dòng thơ của anh Tuấn. Cảm ơn anh.



Từ: Guest HanhLTM
18/07/2017 09:42:12

Phải nói là anh Tuấn quá giỏi, tâm huyết, kỳ công với lịch sử nước nhà. Anh kể chuyện lịch sử bằng những vần thơ mộc mạc, chan chứa tình yêu với quê hương đất nước, với tổ tiên, nguồn cội.


Em xin cám ơn anh và người thư ký tận tụy của anh - chị Thanh Lý!



Từ: Guest Phạm thi Thơ
16/07/2017 13:31:54

Em xin cảm ơn anh chị Tuấn Lý và Người Post, chị Thúy Hoa. Đặc biệt là anh Tuấn .


Em rất thích bức ảnh đại diện của Truyện chùa bối linh (số 2). Một bức ảnh đẹp tuyệt vời. 


Khó có thể nói lời cảm nhận cho trọn vẹn. Khi đọc thơ anh giọng ngâm của chị Lý lại vang lên trong em. Nếu có điều kiện khảo cứu những tài liệu anh Tuấn tham khảo để viết lên Truyện Thơ này thì mới thấy hết giá trị, sự quý giá của nó. Em xin cảm ơn.


Đợi đọc thơ anh chị nữa ạ.


 



Tổng số bài và comment post theo từng khoa

KhoaBài viếtComment
Sinh 542 9331
379 2789
Hóa 811 9478
Luật 713 11541
Toán 62 365
Kinh tế 4 108
Câu Lạc Bộ 30 1
NCS 3 70
Bạn bè 196 1190
Dự bị 0 0
Ngôn ngữ 2 2

10 người post bài nhiều nhất

UserSố bài viết
TungDX 289
NghiPH 305
NgocBQ 119
ThaoDP 96
CucNT 118
CoDM 86
HaiNV 95
LiTM 84
PhongPT 69
MinhCK 69

10 người comment nhiều nhất

UserComment
Guest 6507
NghiPH 3218
LiTM 1875
HaiNV 1853
CucNT 1694
KhanhT 1642
TungDX 1567
ThanhLK 1546
VanNH 1364
HuyenBT 1203
s